IPB Style© Fisana

Jump to content


- - - - -

List các đồ vật trong thần thoại và truyền thuyết Việt Nam


  • Nông dân không có quyền gửi ruộng mới
  • Bạn không thể cày trong ruộng này
  • Go to first unread post
3 vựa lúa trả lời cho kho thóc này

#1 kohaku

    Nông dân lái máy cày

  • Nông dân hung hãn
  • PipPipPipPipPipPip
  • 585 vựa lúa
  • 360 Thích

Gửi vào 08 May 2010 - 09:30 PM

sau bài list sinh vật siêu nhiên là bài về list đồ vật mà các nhân vật trong truyện cổ, truyền thuyết từng sử dụng. Thực tế, 2 cái list này chỉ mới là tổng kết từ 1 cuốn truyện dân gian mà thôi, còn rất nhiều cuốn nữa tôi chưa sờ đến. Thế nên cũng như bài về list sinh vật, bài list này cũng chưa hề complete và cũng chẳng biết bao giờ mới có thể completed được ( nên sẽ chẳng bao giờ biết thực sự số lượng sinh vật và đồ vật trong 2 list thực sự nhiều đến mức nào.)
  • Trở lên đầu trang


#2 kohaku

    Nông dân lái máy cày

  • Nông dân hung hãn
  • PipPipPipPipPipPip
  • 585 vựa lúa
  • 360 Thích

Gửi vào 08 May 2010 - 09:31 PM

Nhà:

Ngôi nhà rông Bok Sơgơ: Truyền thuyết Ba Na. Thời mà các dân tộc vẫn còn nhớ rõ nguồn gốc là anh em họ hàng của nhau. Người con lớn của Bok Sơgơ (Bok Sơgơ là ông tổ các dân tộc) đã triệu tập mọi người đốn cây để làm một căn nhà Rông chung cho toàn nhân loại. Căn nhà rông này được xây dựng trong một năm, mái nhà cao đến chạm nóc trời. Nhưng sau đó nhân loại bỗng dưng không còn hiểu được tiếng nói của nhau nên phải chia ra mỗi tộc mỗi ngả. Căn nhà không bao giờ được dùng tới.

Cung điện của Chương:
vị anh hùng đã đánh bại nhà trời ( cực nổi tiếng, rất nhiều dân tộc có dị bản về người anh hùng này), chiếm lĩnh ½ cõi trời và 4/5 cõi trần. Cung điện anh ra lệnh xây dựng sau đó có đến 1 triệu cột, hàng ngàn gian, chia cho 4 vợ ở 4 nơi.

Lầu Phi Vân: Theo Lĩnh Nam Chích Quái, đây là cái lầu mà pháp sư Văn Du Tường thời Đinh đã lập để giăng bẫy giết Mộc Tinh. lầu Phi Vân cao 20 thước ( 6 m), dựng một cây đứng ở trong, tết vỏ gai làm dây chão dài 136 thước ( 40,8 m), đường kính rộng 2 tấc, lấy mây mà quấn ngoài rồi chôn hai đầu dây xuống đất, giữa gác lên cây. Các tạp kỹ chạy nhảy, cưỡi ngựa, diễn trò, ca múa trên dây ấy, dụ quỷ đến. Trích dẫn:
“ Thượng Kỵ đứng lên trên dây mà chạy nhanh 3,4 lần, đi đi lại lại mà không ngã. Kỵ đầu đội khăn đen, mình mặc quần đen. Dây của Thượng Can dài 150 thước, có một chỗ mắc chạc ba. Can hai tay cầm hai cán cờ. Hai người đi trên dây, gặp nhau ở chỗ chạc ba thì lại tránh, lên xuống mà không ngã. Khi thì Thượng Đát lấy một tấm gỗ lớn rộng 1 thước 3 tấc, dày 7 tấc đặt lên trên cây cao 17 thước 3 tấc, Đát đứng ở trên nhảy 2, 3 cái, tiến tiến lùi lùi điên đảo. Khi thì Thượng Toái lấy tre đan thành lồng hình như cái lờ bắt cá, dài 5 thước, tròn 4 thước rồi chui vào đứng thẳng mình mà lăn. Khi thì Thượng Câu vỗ tay nhảy nhót, la hét kêu gào, chuyển động chân tay, vỗ đùi vỗ bụng, tiến lùi lên xuống, hoặc cưỡi ngựa bôn tẩu, cúi mình xuống lấy vật ở dưới đất mà không ngã. Khi thì Thượng Hiểm ngả mình nằm ngửa lấy thân đỡ một cái gậy dài rồi cho đứa trẻ trèo lên mà không rớt xuống. Khi thì cho bọn ca hát gõ trống khua chiêng, ca múa rầm rĩ.”

Cung điện bay ở Đầm Dạ Trạch:
cung điện của Tiên Dung và Chử Đồng Tử ( ông tổ của đạo giáo và thương nghiệp VN, 1 trong Tứ Bất Tử), tương truyền do 1 cái … nón lá và một cây gậy do người thầy trao cho Chử Đồng Tử tạo nên. Tương truyền cung điện là một quần thể kiến trúc đầy đủ thành quách, cung điện, lầu ngọc, điện vàng, đền đài dinh thự,… lại sẵn có ngọc ngà châu báu, người hầu, binh sĩ đông la liệt. Chử Đồng Tử từ đây đã lập nên cả một triều đình riêng. Khi Hùng Vương kéo quân đến đánh, Cung điện này trong một đêm bất ngờ theo cơn lốc bay về trời, mang theo vợ chồng Chử Đồng Tử. Theo truyền thuyết về Triệu Quang Phục thì trong cung điện có nuôi ít nhất có 1 con rồng và 1 cái vuốt rồng.

Ân Vương thành: theo Lĩnh Nam Chích Quái, sau khi bị giết, tướng giặc Ân là Thạch Linh trở thành vua một vùng âm phủ, có thủ phủ là Ân Vương Thành. Lối vào thành không xa mấy cách hang của con rắn khổng lồ. Theo miêu tả: “trên cổng thành có lầu cao lợp ngói đỏ lộng lẫy, ánh sáng mờ mờ chiếu tỏa. Trên cổng treo biển đỏ viết chữ "ân Vương Thành" bằng vàng. trong sân có ao, giữa ao có sen ngũ sắc, cạnh ao có hòe, liễu mấy hàng. Thấy đường gạch phẳng lỳ, điện ngọc cung châu, lầu cao gác rộng. Trên điện kê giường kim qui, trải chiếu hoa bạc, có hai cây đàn cầm, sắt, vắng lặng không thấy người. Vỹ bèn vào đánh đàn, bỗng thấy kim đồng ngọc nữ hàng trăm người theo hầu ân hậu mở cửa mà ra….”. Theo truyện đề cập thì nơi này nằm đâu đó ở núi Trâu, nơi Thạch Linh bị Thánh Gióng giết ngày xưa.

Thành Cổ Loa:
do An Dương Vương xây dựng, phế tích đến nay vẫn còn. Tương truyền thành gồm 9 vòng ( nay đã xác nhận là có 3 vòng). Thành đắp bằng đất, men theo các con sông suối và ngọn đồi, kiêm luôn kinh đô Âu Lạc.




Chày giã gạo của bà Choong Gô Chươi Lụa: Theo người Mảng, thời mà bầu trời còn kề sát mặt đất, con người ta rất vướng víu mỗi khi giã gạo. Họ kêu Monten nhưng thần Monten cũng làm lơ. Bà cụ này trong một lần giã gạo đã bực bội trách mắng rồi dùng chày chụi một phát vào bụng trời, khiến nó đau quá phải rút lên cao. Sau đó bà chống chiếc chày này trên tảng đá Gi Rạng Pling ( đá chống trời) để chèn không cho bầu trời tụt xuống như cũ.

Bè bằng gỗ plang giang: Truyền thuyết đại hồng thủy của người Mảng. Đây là chiếc bè mà 2 anh em duy nhất sống sót trong đại hồng thủy sử dụng. Trong khi các bè khác đều bị vỡ, chỉ có chiếc bè này nguyên vẹn và cứu sống 2 anh em.

Cây gỗ rỗng: 1 dị bản về truyền thuyết đại hồng thủy ( bản “ truyện quả bầu” của người Khơ Mú). Một khúc gỗ to, đẽo rỗng, chứa thức ăn trong 7 ngày, miệng gỗ bịt sáp ong cho kín, có thể chứa 2 người nằm trong đó. Theo 1 phiên bản đại hồng thủy (bản 2 anh em lấy nhau, không phải bản chết hết), 2 anh em đã sống sót bằng cái này thay vì chiếc bè gỗ plang giang.

Trống Yang Arơ:
1 dị bản về truyền thuyết đại hồng thủy (Trong “ Nguồn gốc loài người” của người Vân Kiều). 3 anh em ( sau là thần Mặt Trời, Mặt Trăng và Đất) đã sử dụng chiếc trống này để kêu gọi sự giúp đỡ từ thần Mặt Trời chặn đứng thảm họa.

Ống đựng trầu của 2 anh em: theo 1 dị bản về thời gian sau trận đại hồng thủy ( 1 phiên bản “Nguồn gốc các dân tộc” của người Mảng). 2 anh em ( Adam và Eva ) sau khi thoát trận đại hồng thủy đã chia cho nhau cái ống và nắp trầu rồi chia tay đi tìm những người sống sót. Một thời gian dài sau họ gặp lại, nhận ra nhau khi ráp hai thứ này khớp vào nhau. Lúc đó họ mới biết họ là 2 con người duy nhất còn sót lại. Có bản chép họ tự sát, bản khác chép họ lấy nhau, sinh ra thế hệ người bây giờ.

Những quả bầu của Monten:( người Mảng) theo 1 dị bản về thời gian sau trận đại hồng thủy. Sau khi loài người diệt vong sau trận đại hồng thủy, thần sáng lập Monten cố tái lập loài người. Ông ta thả những quả bầu khổng lồ chứa người xuống trần, nhưng tất cả đều bị lũ Tê Tê ăn thịt. Cuối cùng, Monten phải nung đỏ một quả bí thả xuống để bọn Tê Tê phải rụng răng vì ăn nhằm đồ nóng, sẽ không còn ăn thịt người được nữa. Sau đó, quả bầu cuối cùng được thả xuống, chở những con người đã nuốt ngọc thông minh ( gấp 3 – 7 lần thú thường).

Lửa: một thứ cực kỳ quan trọng thời cổ. Nhiều truyền thuyết bảo con người có nó nhờ trao đổi thứ gì đó với một loài vật bất kỳ ( dơi, chuột,…) hoặc do trời gửi xuống giúp đỡ cho.

Ngọn lửa giết chết 2 con người cuối cùng: truyện đại hồng thủy, (“Nguồn gốc các dân tộc” của người Mảng: phiên bản 2 anh em trai gái). Sau khi biết rằng tất cả đã chết trong thảm họa đại hồng thủy. Người anh trai muốn cưới em gái để sinh sôi trở lại loài người nhưng cô gái từ chối. Cuối cùng, một lần đốt lửa sưởi, người anh buồn bã nhảy vào lửa tự sát, người em cũng làm theo. 2 con người cuối cùng chịu chết cháy. Theo dị bản khác thì họ không chết mà lại lấy nhau, sinh ra quả bầu, tái dựng lại loài người.

Những hạt thóc của bà Choong Gô Chươi Lụa:
Theo “Nguồn gốc các dân tộc” của người Mảng, để loài người nhanh chóng phục sinh, bà cụ này ( 1 kiểu thần) đã giao cho con người gióng thóc đặc biệt, ra loại hạt to bằng quả bí, có thể tự chui vào bịch rồi kéo về nhà khi hạt chín. Nhưng về sau, thóc lúa mất dần đi các tính năng trên do sự phá hoại và lười biếng của con người.

Niêu cơm Thạch Sanh: một cái nồi cơm thần bằng đất, nhỏ xíu. Nhưng cơm nó nấu ra có thể đầy mãi không vơi. Tương truyền cả đạo lien quân mấy nước hợp lại ăn đến no cũng không làm cơm trong nồi sụt xuống phân nào.

Đàn Thạch Sanh: Cây đàn mà con trai vua Thủy Tề tặng Thạch Sanh để đền ơn cứu thoát. Cây đàn khi gảy lên có thể kể lể mọi nỗi niềm của người cầm đàn ( thì cũng như Tuyệt Mệnh Hồ Cầm Khúc của Qiao thôi, khác cái là đàn thần chẳng cần nhờ tới kỹ thuật của người gảy đàn.).

Búa Thạch Sanh: Cây búa mà Thạch Sanh dùng để đốn củi, anh cũng dùng nó làm vũ khí khi giết Chằn Tinh

Củ ngải sét: Củ ngải là một loại củ nhìn rất giống củ nghệ, ruột màu trắng. Kích thước củ tùy loại từ nhỏ như củ nghệ đến lớn như bắp vế con người. Đây là một loại thực vật thường hay được dùng làm bùa phép, nên ta hay nghe đến cụm từ “bùa ngải” là vậy. 1 số nguồn tham khảo nói ngải có tác dụng rất mạnh nhưng không bền, trong khi bùa tác dụng yếu nhưng dài lâu.
Theo chuyện K Dong và Ka Rong của người Mạ ( cực kỳ hao hao Hòn Vọng Phu). Người anh phát hiện ra mình cưới nhầm em gái, sợ quá bắc thang lên nhà thần sét, dùng bỏng rang dụ bọn con thần đổi lấy những củ ngải sét thật to, thật đẹp. Tối đó, thần hô mưa, cùng K Dong ném quả ngải sét đấu nhau dữ dội. 2 đứa con thần chẳng may đạn lạc chết cháy cả. Sáng ra thần đành chịu thua, bảo 2 vợ chồng cúng trâu và gà trắng để được xá tội.

Lá ngải: như trên vừa nói, ngải được xem là một vị thuốc thần bí. Trong truyện Giếng Việt của Lĩnh Nam Chích Quái, tiên nữ Ma Cô đã tặng nhân vật chính Thôi Vĩ một bó lá ngải có khả năng trị … bướu. Thôi Vỹ đã dùng lá này trị bệnh bướu cho cả rắn khổng lồ.

Thuốc mê: thuốc mà Thạch Sanh giao cho công chúa để chuốc mê Đại Bàng Tinh, khiến nó chìm vào giấc ngủ trong một thời gian ngắn.


Bùa phép/ Võ thuật:


Tục xăm miệng: lấy lá xanh và gai nhọn xăm quanh miệng thì phụ nữ sẽ từ lười trở thành đảm đang ( tục của người Mảng, giờ hình như vẫn còn).

Thuật nhập xác yểm thần: Phép thuật mà quan đô hộ thời Đường là Cao Biền từng sử dụng để giết các thần linh đất Việt, yểm những nơi có tính linh thiêng . Cách thi hành: mổ bụng con gái chưa chồng mười bảy tuổi, vứt ruột đi, nhồi cỏ bấc vào bụng, mặc áo quần vào rồi đặt ngồi trên ngai tế bằng trâu bò, hễ thấy cử động thì vung kiếm mà chém đầu. Nhưng trò này xem chừng không hiệu nghiệm.

Thuật dùng sắt yểm thần: Thường nghe người ta dùng sắt để yểm các thần sông. Cao Biền, Lý Cao Tông, mỗi người từng làm một lần. Chi tiết thực hành thì không rõ.

Yến Phi Quyền:
bài quyền tương truyền do Nguyễn Huệ sáng tạo ra, dung để luyện tập quân sĩ trong giai đoạn trước khi kéo quân ra Bắc. Bài quyền mô phỏng các động tác lướt, bay dịu dàng của con chim yến (én) nên thân pháp với các thế tấn nhẹ nhàng, linh hoạt khi tấn công và kín đáo khi phòng thủ, nhiều thế tấn đứng trên một chân. Thủ pháp khoáng đạt rộng mở với những chiêu thức sải rộng cánh. Đòn thế tấn công đối thủ thường bằng cạnh tay chém, mũi bàn tay đâm và các ngón tay móc hổ trảo. Cước pháp trong bài là các đòn đá bằng cạnh chân và móc vòng đánh gót.

Hùng Kê Quyền ( Hồng Kê Quyền – Quyền Gà Chọi): bài quyền do Nguyễn Lữ sáng tạo, dùng để rèn luyện quân sĩ. Do Nguyễn Lữ tính tình hiền hòa, thiên văn hơn võ, nên nghe đâu bài quyền này thiên về thủ hơn công. Ông đã sáng tạo ra bài Hùng kê quyền vừa phù hợp với sở học của bản thân, vừa phù hợp với thể chất người Việt nói chung, vừa thích ứng với nhu cầu cấp thiết của nghĩa quân Tây Sơn giai đoạn đó. Đặc tính của nước được áp dụng trong bài bằng những yếu lĩnh, nhằm đến mục tiêu: yếu có thể đánh mạnh, thấp có thể đánh cao, nhỏ có thể đánh lớn, ít có thể đánh nhiều, gần có thể đánh xa.

Như những động tác dũng mãnh của con gà chọi nhỏ bé mà nhanh nhạy trước đối thủ, bài Hùng kê quyền sử dụng ngón tay trỏ để đâm (nhất dương chỉ) mô phỏng hình mỏ gà, và các ngón còn lại co vào như chiếc cựa gà. Thủ pháp độc đáo như vậy lại nhằm vào những mục tiêu hiểm của đối thủ, như các huyệt đạo, ngực, hầu v.v. Bộ pháp của bài hết sức linh hoạt, thần tốc, xoay chuyển một cách biến ảo đã hỗ trợ cho việc thi triển thủ pháp một cách kiến hiệu, khiến đối thủ luôn phải hứng chịu những đòn thế có tính sát thương cực cao.

Võ sư Ngô Bông, trên Bình Định nguyệt san, đã nói về những điểm tinh túy của bài Hùng kê quyền: Các đòn đánh của bài quyền Hùng Kê cực kỳ chuẩn xác và biến ảo. Cái thần thái của bài quyền là sử dụng sức mạnh của thủy (nước) để đánh đối phương. Mà... nước mà chảy là mạnh lắm và không thể nào tránh né cho khỏi. Các đòn đánh của bài quyền Hùng Kê cũng vậy. Nó đánh vây tứ bề, dùng ba đến bốn mũi giáp công chỉ nhằm đánh vào một điểm, đánh từ dưới thấp lên cao, từ trên cao phủ đầu xuống thấp.

Vì uy lực của bài quyền này, hiện nay bài thường chỉ được truyền dạy cho môn đồ đã có trình độ nhất định, chẳng hạn như cấp huấn luyện viên.

Sẵn tiện nói luôn: Nguyễn Lữ là 1 tín đồ của Minh Giáo, một tôn giáo xuất xứ từ Bái Hỏa Giáo ở Trung Đông, sùng bái thần lửa ( yes, chính là Minh Giáo trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký). Angra Mainyu ( “ linh hồn hủy diệt”, 1 dạng thần “ rất không tốt, nhưng cũng không phải ác quỷ”) là một vị thần quan trọng của tôn giáo này. Nếu ai thích có thể ngâm cứu Fate/Hollow Ataraxia hoặc tìm thêm trên wiki.

Độc Lư Thương: một bài tập đấu giáo/ thương, tương truyền do ba an hem Nguyễn Nhạc/ Nguyễn Huệ/ Nguyễn Lữ sáng tạo ra, dung để luyện tập binh sĩ. Độc lư ngụ ý tượng trưng cho sự đoàn kết một lòng và ý chí không gì chuyển lay của ba anh em nhà Tây Sơn khi đứng lên phất cờ khởi nghĩa, vững chắc như thế 3 chân của một chiếc lư hương. Độc lư còn hàm nghĩa thể hiện ý thức tôn thờ một chủ, đồng lòng quyết tâm ủng hộ nghĩa quân Tây Sơn của từng chiến binh cũng như của toàn thể nhân dân. Mô phỏng hoàn hảo thần thái của chiếc độc lư ba chân cắm cây hương trên các bệ thờ, bài thương thể hiện sự vững chắc liền lạc và kín đáo khi phòng thủ, thần tốc và bất ngờ khi tấn công. Đòn thế của bài liên hoàn hỗ trợ nhau, biểu hiện sự kết hợp hài hòa của binh khí là cây trường thương trong tay người thi triển các chiêu thức với tấn pháp, bộ pháp, thân pháp, thủ pháp. Bởi vậy, uy lực của bài chỉ thực sự được phát huy tại những địa thế rộng rãi, nơi chiến địa, và tỏ ra hiệu quả trong các đoàn quân Tây Sơn khởi nghĩa khi đánh trên lưng ngựa, trên thuyền hay dưới đất.

Roi Thái Sơn, (Thái Sơn thảo pháp, Côn Thái Sơn hay Thái Sơn côn): môn võ dùng roi ở Bình Định, nổi tiếng thời Tây Sơn. Bài sử dụng cây côn có độ dài đến lông mày người tập, gọi là tề mi côn. Đường kính côn khoảng 3 cm, vừa phải, đủ để nắm gọn trong lòng bàn tay. Côn có thể làm bằng gỗ cứng nhưng thường là bằng cây song, tầm vông vừa dẻo dai vừa rắn chắc. Roi chia hai đầu, trong đó phần ngọn roi phía trước gọi là đầu roi, phía đuôi gọi là đốc roi.

Khác với một số bài như Lão hổ thượng sơn, Hùng kê quyền, Yến phi quyền chỉ bắt chước tư thế hoặc lấy tinh thần của một loài vật làm căn cơ của bài, bài roi Thái Sơn mô phỏng tư thế, động tác của tám con vật là rắn, lân, tê giác, thỏ, mèo, trâu, gà, hổ. Đây là một điểm hiếm thấy trong các bài danh võ. Các chiêu thức của bài, do biểu thị cả hình và ý của nhiều loài thú nên hết sức biến ảo, lúc tấn công thì ra đòn mạnh như vũ bão, lúc lui về thế thủ thì nhẹ nhàng, uyển chuyển, linh hoạt để né tránh. Rồi từ thế thủ chuyển sang thế tấn công ra đòn liên tiếp để hạ đối phương. Bài đặc trưng với những kỹ pháp tấn công như đâm, bắt, lắc, đả, kỹ thuật phòng thủ như triệt, chặn, khắc v.v.



Răng cọp: thứ mà Ma Núi ( Chạ m’ nơm) đeo trước ngực trong truyện “ Người con côi Nộp và vua Chăm”. Đó là tất cả sức mạnh của nó. Mất răng cọp, Ma Núi yếu xìu.

Sừng Tê 7 Tấc:
Chiếc sừng do Thần Kim Quy trao cho An Dương Vương khi ông ta mất nước. Sừng có khả năng rẽ nước làm hai, An Dương Vương cầm thứ này để bỏ trốn xuống thủy cung.

Bình thần: Bình của Cầu Vồng ( truyện “ Chàng Cóc” của người Ca Dong), một trong năm đứa con trời, có thể hút bất cứ ai đứng gần vào nó ( đại loại giống hồ lô thần trong Tây Du Ký).

Chiếc mồng thần ( chiêng nhỏ, có núm tròn ở giữa) của khỉ già:
Truyện cổ “ Chàng Cơ Ho và công chúa Naitơ Lúy” của người Cơ Ho. Có một con khỉ già sở hữu rất nhiều bảo vật. Chiếc chiêng này mỗi khi đánh lên, có khả năng hồi sinh tất cả cây cối bị đốn hạ. Chiếc Mồng này còn có thể dùng để ước nhiều thứ VD như phát sẵn một bãi rẫy lớn, tạo ra nhà cửa, trâu bò, làm binh lính tự trượt ngã, sứt đầu mẻ trán,…

Chiêng đồng tiếng vang xa 7 ngọn núi: Một báu vật nữa mà khỉ già xin tặng cho Cơ Ho để chuộc mạng, nhưng anh ta không nhận.

Tờ giấy thần: Truyện con nai vàng của người Vân Kiều. Tờ giấy thần này chỉ cần nhét vào bụng rồi khâu lại thì có thể cầu đến sự trợ giúp của thần linh lẫn hỏi các cách thức đánh thắng kẻ địch.

Tờ tấu sớ của Gà Trắng núi Thất Diệu:
là tờ sớ do con gà thành tinh này họp cùng các hồn ma thời Hùng Vương 18 viết thành dâng lên trời hàng đêm, vốn để cầu xin phá hủy thành Cổ Loa. Đại khái nó như một lá bùa nguyền rủa. Mỗi lần lá sớ bay lên trời thì lập tức bầu trời đêm đó nổi mưa gió sấm chớp, đánh sập thành Cổ Loa chỉ trong 1 đêm.


Sách Ước Ba Trang: Tương truyền một lần Sơn Tinh cứu sống một con rắn nước bị trẻ con đập chết. Con rắn vốn là con cháu thủy tộc của Lạc Long Quân, ít lâu sau hóa thân trở lại làm người, tặng anh chiếc sừng tê rẽ nước ( sau này Thần Kim Quy cũng đem một chiếc sừng tương tự giao cho An Dương Vương) để mời anh xuống thủy cung chơi. Ở đó, vua Rồng đền ơn anh cứu sống con trai, tặng cho anh sách ước. Tương truyền sách có 4 trang, đặt tay lên trang nào thì trang đó ứng nghiệm:
- Trang Đỏ: điều khiển sấm sét.
- Trang Kim: Tạo ra mọi loại công cụ.
- Trang Mộc: điều khiển rừng cây.
Vua Rồng chỉ giữ lại trang Thủy, còn lại đều giao cho Sơn Tinh. Sơn Tinh trở về, thành vị thần thống lĩnh núi Tản Viên và muôn thú.
Một phiên bản đơn giản hơn chỉ gọi gọn đó là sách ước, có thể cầu gì ước thấy mà thôi.

Mũ đầu mâu đính vuốt Rồng: chiếc vuốt rồng mà Chử Đồng Tử đã hiện thân trao cho Triệu Quang Phục. Ông đính nó lên chóp mũ đầu mâu thay cho mũi mâu thông thường. Vuốt có khả năng làm sụt giảm sĩ khí quân giặc, giúp Triệu Quang Phục giải phóng đất nước.

Cau/ Đá vôi/ Trầu:
tương truyền là do người em Lang, người anh Tân ( 2 người là anh em sinh đôi) và người vợ Liên của Tân chết mà hóa thành. Về sau nó được dùng trong đống đồ sính lễ của người Việt. “Miếng Trầu là đầu câu chuyện”.

Bánh Chưng/ Bánh Giày: tương truyền là do Lang Liêu con thứ 18 của Hùng Vương thứ 6 ( sau khi thắng giặc Ân, muốn truyền ngôi, bảo con chuẩn bị vật lễ cúng tổ, ai chuẩn bị tốt sẽ truyền ngôi vua) theo lời gợi ý của nữ thần trong giấc mộng tạo thành. Bánh Chưng gồm thịt, mỡ, gạo, bọc bằng lá tượng trưng cho Đất ( làm bằng những thứ con người phải lấy từ đất để tồn tại), Bánh Giày bằng bột gạo trắng tượng trưng cho trời ( Gạo là tất cả). Như vậy, 2 món bánh này chứa đựng rất nhiều ý nghĩa về đời sống lẫn quan niệm của người Việt về trời và đất. Về sau, hai món này là vật không thể thiếu để cúng tổ tiên ngày tết. Tiếc là giờ tục lệ này ít còn, nhà tôi thì vẫn còn ăn bánh chưng mỗi tết nhưng chưa từng thấy bánh Giày.

Dưa hấu: tương truyền 1 con chim bạch trĩ từ phương Tây ngậm hạt dưa nhả xuống cho Mai An Tiêm gieo trồng. Thế nên dưa hấu này còn gọi là Dưa Tây Qua. Vùng đất Mai An Tiêm đi đày, trong Lĩnh Nam Chích Quái chép rằng có người đồn đó là Thanh Hóa bây giờ chứ không phải đảo. Dưa hấu là lời tuyên bố khẳng định câu nói “ mọi thứ trong nhà đều do 2 bàn tay ta tạo nên” của Mai An Tiêm.

Ngọc Long Thụy: viên ngọc mà Thạch Linh, thủ lĩnh giặc Ân mang theo mình. Khi ông ta bị giết, nó bị vùi lấp theo. Tương truyền ngọc có hào quang chiếu tỏa tận trời, là một báu vật. Theo Lĩnh Nam Chích Quái, ngọc có một bộ 2 viên thư, hùng truyền từ đời Hoàng Đế đến nhà Ân rồi lưu lạc. Well, Lĩnh Nam Chích Quái còn lưu truyền bây giờ là sách viết thời Hậu Lê ( Vũ Quỳnh, Kiều Phú biên tập lại). Mà thời đó NHo giáo đã thịnh, sách toàn do nhà nho biên tập, mà họ thì cứ cố liên hệ với Trung Quốc nên mới gán ghép đủ chuyện thế. Trước thì bảo Lạc Long Quân quê ở hồ Động Đình, nay bảo Thạch Linh là vua nhà Ân ( truyền thuyết dân gian kể rằng giặc Ân ngoài tổng chỉ huy là Thạch Linh ra thì cầm đầu bởi hơn 50 nữ tướng, nghe thế là biết không phải nhà Ân rồi. Vì Trung Quốc lúc đó đã theo phụ hệ, còn phía Nam như ta mới còn theo mẫu hệ.). Âu cũng là cái tội biến tấu của cha ông, cũng như vụ Tro Bếp tôi nói hôm bữa.

Ngọc Trai: Tương truyền khi Mị Châu bị An Dương Vương chém chết, máu chảy xuống biển bị loài trai ăn phải. Từ đó những con trai đều có ngọc trai.

Giếng Trọng Thủy: Tương truyền sau khi Triệu Đà trộm được nỏ thần, chiếm được nước Âu Lạc. Mị Châu bị An Dương Vương chém chết. Trọng Thủy vì quá đau buồn đã nhảy xuống giếng tự sát. Giếng này về sau gọi là giếng Trọng Thủy. Dân Gian tin rằng lấy nước giếng này rửa ngọc trai thì ngọc sẽ sáng hơn cả. Sau khi Lê Lợi giành độc lập, nhà Minh đòi Đại Việt phải cống nước giếng này ( cống kèm ngọc trai) cùng người vàng để đền tội giết Liễu Thăng ( 1 trong những vị tướng đầu tiên của nhân loại chỉ huy đội súng, từng lập công đánh Mông Cổ.). Cốt trò cống nước này để hành người Việt là chính, vì 2 chum nước đi sang tận Bắc Kinh mất cả năm trời, thường là bốc hơi ráo cả. Các sứ giả Việt tới nơi, thường múc bừa nước sông nước giếng đổ vào chum nộp cho có lệ mà thôi. Năm 1718, sứ giả nhà Trịnh là Nguyễn Công Hãn đi sứ Khang Hy triều Mãn Thanh, cố ý múc nước giếng Ba Son ( không rõ là địa phương nào bên Trung Quốc) để nộp. Người Thanh dùng nước rửa thấy không sáng, bắt đầu kiếm chuyện. Ông trả lời: Cái khí đã đến lâu ngày thì tự nhiên biến đi. Nghe có lý, từ đó Trung Quốc bỏ lệ cống nước này. Giếng Trọng Thủy tới nay vẫn còn.

Tượng đồng Lý Ông Trọng: xuất phát từ truyền thuyết Lý Ông Trọng ( chẳng biết từ đâu mà có, nhưng mang tư tướng sô vanh hơi bị lớn). Truyện kể rằng thời Hùng Vương có một người khổng lồ ( cao 2 trược 6 thước = 3,3 x 2 + 0,3 x 6 = 8,4 m) tên Lý Thân, tính tình hung hãn, sức khỏe kinh người ( đấu vật chưa từng thua ai, từng vật chết cả giao long.) bỏ lên phương Bắc làm quan lớn nước Tần. Tần Thủy Hoàng sai đi đánh Hung Nô, ông ta anh dũng thiện chiến khiến người Hung Nô kinh sợ. Sau ông ta tự sát, Tần Thủy Hoàng thương tiếc ra lệnh đúc một bức tượng đồng giống hệt ông ( nghĩa là cao 8,4 m). Tượng thực chất là một người máy có thể điều khiển được, nên khi quân Hung Nô nhìn thấy tượng chuyển động từ xa, tưởng Lý Ông Trọng còn sống nên hoảng sợ bỏ chạy. Nhà Tần nhờ đó mới yên nạn Hung Nô. Rõ ràng câu chuyện này chế biến nặng nề để phô trương tư tưởng vừa sô vanh vừa … tự ti trước người Trung Quốc. Người lập công bình Hung thời Tần và xây Vạn Lý Trường Thành thực ra là Mông Điềm. Sử sách chẳng hề ghi chép một Lý Thân hay tượng đồng nào cả. Nhưng qua truyện Lý Ông Trọng, ta biết được chi tiết cống người cho Trung Quốc từng tồn tại ở VN.





Đá:

Hòn đá hình con nai ở suối Gium Bai:
Nằm trong truyện về đất tổ của người Mảng. Thời xưa, trời thường có mây mù, sấm sét, sạt lở dữ dội. Mỗi lần như thế, người Mảng lại chạy ra nương nhờ hòn đá này. Không hiểu vì lý do gì, cây đổ, đá lở, nước lũ trôi đến đây đều trở nên yên lặng hoặc lái ra hướng khác. Vì được cứu nhờ hòn đá này, người Mảng tôn nó làm vật tổ.

Hòn đá mài người của họ tộc chim Ric ( thuộc người Khơ Mú):
có thể mài người xấu thành người đẹp, đôi khi thậm chí có thể mài người xấu thành người tốt, người yếu thành người khỏe.

Xôm Bai - Cây/ hòn đá hình nai chuyển động:
Truyền thuyết khai sinh tộc Xôm Bai của người Mảng. Khi 2 anh em người Thái này treo đồ đạc lên một cành cây nghỉ mệt, cây bỗng dưng chuyển động và bỏ chạy. 2 anh em cố đuổi đến mức nào cũng không kịp ( chạy nhanh thì cây cũng nhanh, chậm đi thì cây cũng giảm tốc độ, dừng lại thì cây cũng ngừng.). Đến khi kiệt sức, họ lăn ra ngủ, sáng ra nhìn lại thì thấy cái cây treo đồ đạc ấy đã hóa thành một con nai bằng đá có sừng. Cho là điềm lành, họ lập thôn xóm quanh con nai đá, gọi là là hòn đá Xôm Bai. Hòn đá này chứa đựng hồn thiêng của nai, có thể huy động loài nai. Chính nó đã ra lệnh đàn nai đem hạt lúa trồng trên đống tro tàn của khu rừng cháy, dạy cho con người biết về thóc gạo. Người Mảng từ đó thường tổ chức lễ mô phỏng đàn nai dùng chân đào lỗ,gieo hạt, lấp đất lại để trồng những hạt lúa đầu tiên, và cực kỳ kiêng ăn thịt nai. Tương truyền kẻ phạm điều cấm kỵ này sẽ gặp tai họa khủng khiếp.

Hòn đá kỳ lạ thành Tà Cơn: sự tích thành Tà Cơn ( Truyện Ba Na). 2 anh em Drum và Dram tình cờ tìm được hòn đá này. Bất cứ thứ kim loại gì, chỉ cần mài bằng nó đều có thể trở nên chém đá như chém chuối. Nhưng có 1 nhược điểm là nếu đem những thứ đã mài bằng đá ấy đi quá xa khỏi hòn đá, nó sẽ trở lại bình thường. Vì thế mà dân làng dắt nhau dọn đến đây, lập ra thành Tà Cơn.

Đá/ người:
Trong truyện “ Chàng Chuối tìm vợ” của người Khơ Mú, có một tảng đá có thể biến thành một cô gái trẻ đẹp, tặng Chuối chiếc nỏ và mũi tên phá đá.





Nước:

Ống nước thần của thần Đất: theo 1 dị bản về thời gian sau trận đại hồng thủy. 3 anh em ( sau là thần Mặt Trời, Mặt Trăng và Đất) có người em sau khi thảm họa chấm dứt đã bỏ đi học ở Dàng. Anh ta mang về ống nước này và con ngựa thần. Nước trong ống có thể cải lão hoàn đồng, tưới nước dập họa lửa.

Nước thần hóa hổ: loại nước mà bất cứ ai chạm vào sẽ biến thành hổ lập tức. Theo truyện cổ của người Hrê. Nước này phải che lại bằng lá ka lê chống độc. Ai bị biến thành hổ phải đập người ấy bằng chày, lốt hổ sẽ vỡ ra. Người ấy trở lại như cũ.

Nước thần tăng sức khỏe:
truyện chàng Chương của người Thái. Đây là thứ nước của trời Then. Ai uống vào có thể trở nên vô địch, dao chém không đứt ( Chương uống 3 bát, 2 bát đổ lên quần áo, 2 nữa cho binh lính đi theo khi đầu thai xuống trần.)




Kiếm:

Con dao của trưởng tộc Hổ: Với họ Hổ của người Khơ Mú, tương truyền có một con đã nhân lúc trời tốn vào ăn thịt cả gia đình bà mẹ và 6 cô con gái, chỉ trừ cô út ngất xỉu nên thoát được. Con cọp này ăn no rồi ngủ luôn tại chỗ, bị chàng trai giết chết, nhưng anh ta lại sợ người ta hiểu lầm mình là kẻ giết cả nhà người mẹ nên lại bỏ trốn. Dân làng nhờ xem con dao bị mẻ và tẩm máu Hổ mà nhận ra anh. Anh ta lấy cô gái út, trở thành trưởng tộc Hổ về sau.

Kiếm của Vu Ta Viên:
Sự tích hồ nước làng Treng của người Hrê. Vợ Vu Ta Viên bị một con trăn trưởng tộc nước bắt làm vợ. Anh ta cầm thanh kiếm này đánh nhau với con trăn ấy. Thanh kiếm buộc một sợi tóc của vợ, giúp anh tăng thêm sức mạnh, sau cùng giết trăn thành công, băm nó làm từng khúc.

Gươm ông Tú: câu chuyện cổ cùng tên của người Ba Na. Người thanh niên con bà Hơ Bia Đát mò được thanh sắt đen dưới lòng hồ sôi ( tạo ra do sét đánh đáp ứng lời than của anh). Thanh sắt cực kỳ cứng, phải gom củi của cả ngọn núi chất lại đốt 7 ngày đêm nó mới chịu nóng đỏ. Chuôi và vỏ gươm làm bằng gỗ quý. Mỗi lần tuốt khỏi vỏ, nó tạo ra một thứ ánh sáng chói lòa hơn cả mặt trời, khiến cả bầu trời phải tối sầm lại, gió lốc và sấm sét nổi lên. Sau khi giết tên bạo chúa xâm lược. Anh ta khi về già đã ném trả thanh gươm xuống lòng hồ sôi ( khiến hồ sôi lại như cũ). Về sau, người Việt mò được vỏ gươm, người Khmer mò được chuôi gươm, người Bana mò được lưỡi gươm. Vì thế nên thanh gươm này còn là biểu tượng thống trị 3 tộc người.

Kiếm của chàng Trăng: y hệt gươm ông Tú, nhưng nó đã là thanh kiếm sẵn từ khi vớt lên dưới đáy hồ sôi. Kiếm cũng có khả năng tỏa ánh sáng chói lòa, nhưng không mạnh được như gươm ông Tú. Nó cũng không thể điều khiển gió, sấm được.

Kiếm của 2 anh em Drum, Dram thành Tà Cơn: ( Truyện Ba Na)
thanh kiếm mài trên hòn đá kỳ lạ thành Tà Cơn, bất cứ thứ gì mài bằng đá này đều trở nên cực kỳ sắc bén, có thể “chặt đá như chặt chuối”.

Thanh gươm già tiên trao cho cô gái làng Potau Ling Ka: trong sự tích Bãi Tiên của người Mạ. 2 ông tiên già đã tặng cho một cô gái người Mạ ngoan hiền thanh kiếm để đánh giặc cướp. Ngoài ra, không thấy nó có khả năng gì đặc biệt. Cô ta sau khi đánh cướp đã múa gươm này với nàng tiên cầm kiếm trong lễ hội làng. Làng Potau Ling Ka từ đó kết thông gia với làng tiên.

Kiếm của làng Mạ Tơ Lăm: theo truyện “Lét và Le” của người Mạ. Cha của Lét và Le có 2 thanh kiếm quý sáng loáng. 2 anh em đã dùng nó giết giặc để bảo vệ làng. Sau trận chiến, 2 thanh kiếm đều vấy máu và gần như muốn gãy.

Khiên và đao của chúa quỷ tộc Nhắt khô lô ề:
Vũ khí của con quỷ chúa tộc Nhắt trong truyện “Con nai vàng” của người Vân Kiều. Khiên to khỏi phải nói, còn đao được miêu tả là “to bằng liếp nhà sàn, dài bằng nửa con khe suối”.

Kiếm của Chương: kiếm của vị anh hùng đã chiếm ½ cõi trời và 4/5 cõi người. Khi đầu thai làm người, vua trời Then đã tặng anh ta một thanh gươm hạng ba, nhưng anh lại lấy thanh kiếm tốt hạng nhất cõi trời. Cây kiếm này cùng Chương xuống trần, nhưng bị mắc vào cành me. Ai đi ngang qua nó đều sà xuống chém chết. Phải đến khi thầy mo cúng, nó mới tìm đến với Chương lúc đó đã đầu thai thành đứa trẻ. Ngoài ra không nghe có khả năng gì đặc biệt.

Kiếm của Xung Thiên Thần Vương Thánh Gióng ( danh xưng Lý Thái Tổ đặt cho Gióng):
có thể xem là cây kiếm sắt đầu tiên của người Việt, cùng với giáp sắt, roi sắt, nón sắt. Có lẽ bởi đây mới là hàng prototype lần đầu nên nó… gãy ngay sau khi giết tướng giặc Thạch Linh ( hoặc cũng có thể Thạch Linh quá mạnh).

Kiếm và nón của Xề Xính: 2 món này nằm trong hang động của con rắn khổng lồ đó. Tương truyền mỗi thứ nặng như một quả núi. Phải là người có sức cầm được hai thứ này mới có thể giết được Xề Xính.

Độc thần kiếm:
Là thanh cổ kiếm của Nguyễn Nhạc, tình cờ mua được lúc đi buôn trầu trên thượng nguồn sông Côn. Nguyễn Nhạc đem về tặng cho thầy Trương Văn Hiến. Trương Công biết là một báu kiếm nên đem cất thật kỹ. Khi Nguyễn Nhạc đã xây dựng xong cơ sở chiến đấu, xuống An Thái thăm thầy và vấn kế, Trương Công bèn trao lại thanh gươm để dùng cho đại sự. Gươm dài hơn sải tay, chém sắt như chém chuối; lưỡi gươm ra khỏi vỏ, ánh hào quang tỏa ra loa mắt. Người dân tộc vùng Tây Sơn thượng đạo theo Hỏa thần, tin là thanh kiếm của thần ban cho nhà vua nên gọi là kiếm thần và gọi ông Nhạc là Vua Trời (Thanh gươm này nguyên gốc thuộc về thần lửa Djarais. 1 truyền thuyết bảo thanh gươm gốc từng 1 thời được vua Champa sở hữu. Champa tìm ra thanh gươm, bèn xây 1 tháp cao để cất giữ nó. Từ trong tháp, ánh sang của thần kiếm lan tỏa ra ngoài. Vua Campuchia mò được vỏ gươm, thấy ánh sáng đó mà sợ phục, phải cống nạp hàng năm. 1 truyền thuyết khác lại cho rằng ai nắm thanh gươm Djarais này sẽ có quyền lãnh đạo rất nhiều dân tộc ở miền Trung Việt Nam trở xuống. Nói chung là tính chất thanh gươm này nghe sao mà hao hao … gươm Ông Tú. Hay nó chính là gươm Ông Tú? Chả biết!)

Để làm cho lòng người thêm tin tưởng, ông Nhạc bèn bày ra một cảnh tượng kiếm trời cho. Nguyên một hôm, Nguyễn Nhạc cùng bộ hạ ở An Khê về đến Hoành Sơn thì ngựa Nguyễn Nhạc lồng lên, rồi thẳng cổ phi nước đại. Đến chân núi phía trong gò Sặt, cương ngựa bị đứt Nguyễn Nhạc té nhào xuống ngựa, trật chân không đứng dậy được. Đám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới bớt. Khi đứng dậy để lên ngựa thì Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên xem thì là một thanh cổ kiếm, lưỡi sáng như nước. Ai nấy đều mừng là kiếm trời ban. Do tích được kiếm của Nguyễn Nhạc tại đây nên núi mang tên là hòn Kiếm Sơn.

Trong ngày khởi nghĩa, Nguyễn Nhạc lập đàn cáo trời đất tại nghẹo Cây Khế nơi đèo An Khê, dưới bóng 2 cây đại thọ: Cây Ké, Cây Cầy. Khi đại quân đến gần tế đàn thì từ trên cây Ké một con rắn bò xuống, thân lớn bằng cột nhà, sắc đen nhánh như hạt huyền, người đương thời gọi là Ô Long nằm cuộn nơi đường đi. Quân không dám tiến. Nguyễn Nhạc bèn xuống ngựa tuốt gươm, vái cùng trời đất rồi chém bay đầu rắn. Nhờ vậy gươm linh lại thêm lừng lẫy.

Độc Thần Kiếm là 1 trong Thập Thần Binh Khí Tây Sơn, gồm: Độc Thần Kiếm, Ô Long Đao, Huỳnh Long Đao, Song Thần Côn, Ngân Côn, Thiết Côn, Thiết Thai Cung, Vĩ Mao Cung, Kỳ Nam Cung, Liên Phát Cung.

Tam Thần Đao: Ba thanh Ô Long đao, Huỳnh Long đao, Xích Long Đao được gọi chung là Tam Thần Đao.

a. Ô Long đao:
Là tên đao của Nguyễn Huệ. Truyền rằng một hôm Nguyễn Huệ đi tuần nơi đèo An Khê, khi cùng anh là Nguyễn Nhạc lo xây dựng cơ đồ khởi nghĩa. Để tạo nên một không khí thần linh, Nguyễn Huệ đã loan tin là trong dịp đi tuần này có hai con rắn mun to lớn đón đường dâng đao rồi từ tạ vào rừng. Tại nơi rắn dâng đao, Nguyễn Huệ cho lập miếu thờ gọi là Miếu xà.

Thanh Ô Long đao, cán bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi đao cũng bằng một loại kim khí màu đen. Khi đao ra khỏi vỏ thì khí lạnh tỏa ra một vùng khá rộng. Thanh đao không có hào quang mà chỉ có khí lạnh, đồng thời sắc bén vô cùng. Trọng lượng rất nặng, phải một người vác mới nổi.

Trong trận Rạch Gầm, Xoài Mút năm Giáp Thìn (1785) Nguyễn Huệ đã sử dụng thanh Ô Long đao chém tướng quân Xiêm lên đến hàng trăm người. Đao loan đến đâu vũ khí và đầu người rụng đến đó. Rồi đến năm Kỷ Dậu (1789) lại một lần nữa thanh Ô Long đao lại đẫm máu quân Thanh xâm lược.

b. Huỳnh Long Đao:
Là thanh đao thần của tướng quân Trần Quang Diệu. Đao thần do sư phụ Trần Quang Diệu là võ sư Diệp Đình Tòng truyền tặng. Sở dĩ có tên Huỳnh Long là vì tại đầu con cù nơi ngậm lưỡi đao được thép vàng.

Cặp song đao Ô Long và Huỳnh Long phối hợp tung hoành trong trận đánh quân Xiêm tại Rạch Gầm, Xoài Mút. Các chiến công của Trần Quang Diệu đều do thanh Huỳnh Long góp phần tạo nên.

c. Xích Long Đao:
Là thanh đao của tướng Lê Sĩ Hoàng. Sở dĩ có tên là Xích Long đao vì tại đầu con cù ngậm lưỡi đao sơn màu đỏ.

Nguyên sau khi dẹp xong quân Mãn Thanh, vua Quang Trung mở hội thi võ để chọn thêm nhân tài giữ nước.

Lê Sĩ Hoàng, người quê Quảng Nam ra kinh ứng thí. Hoàng dũng sĩ, lúc nhỏ nhà nghèo, chăn trâu cho một Phú ông trong thôn. Nhà gần núi nên một hôm trâu bị cọp bắt. Hoàng sợ chủ bắt đền. Chạy trốn vào núi sâu. Lạc đường không tìm được lối ra, gặp được dị nhân truyền thụ võ nghệ. Lê có sức mạnh hơn người, võ nghệ tuyệt luân, chuyên sử dụng cây đao Xích Long của sư phụ truyền cho.

Năm Quang Trung thứ hai (1789) khoa thi võ đầu tiên tại kinh đô Phú Xuân, Lê Sĩ Hoàng ra ứng thí. Thấy tài năng vượt trội, lại chuyên sử dụng đại đao nên vua Quang Trung sai Trần Quang Diệu ra tỉ thí. Hai thanh đao Huỳnh Long và Xích Long như đôi rồng hợp nhau múa lượn, người xem vỗ tay hoan hô vang dậy. Hai bên bất phân thắng bại. Vua Quang Trung cao hứng, truyền đem Ô Long Đao ra để tỷ đấu cùng Lê võ sinh. Lê Sĩ Hoàng cung kính quỳ tâu:

- Với Trần tướng quân, hạ thần còn chưa địch nổi, huống chi bệ hạ.

Nhà vua đắc ý, vỗ vai họ Lê, cười nói:

- Khanh là Hứa Chữ của ta đó!

Rồi cởi chiếc cẩm bào đương mặc, ban cho Lê Sĩ Hoàng.

thanh đại đao của tướng Lê Đại Cang: Cây đao nổi tiếng đã từng giúp cho Lê tướng công dẹp yên giặc Miên bình định Trấn Tây Thành.

Gậy:

Chiếc nón lá và cây gậy thần: 2 món mà nhà sư Phật Quang sau 1 năm dạy phép thuật đã trao nó cho học trò Chử Đồng Tử. 2 món này theo nhà sư nói, “ linh thiêng là ở 2 vật này”. Về sau chúng hóa thành cung điện của vợ chồng Chử Đồng Tử.

Gậy sinh tử: Gậy phép của Sơn Tinh ( Đệ Nhất Phúc Thần nước Đại Việt, đứng đầu Tứ Bất Tử, là vị thần hùng mạnh nhất trong các thần đất Việt từ sau thời của Lạc Long Quân.). Tương truyền Sơn Tinh khi sinh ra đã nằm trong rừng, một ông tiều phu không con thương tình mang về nuôi. Khi lớn lên, ban đầu cậu đi đốn củi như cha. Một lần chặt một cây cổ thụ lớn suốt mấy ngày không xong ( chặt gần xong thì đã mất một ngày, khi về nghỉ đến sáng ra xem thì cây lành như cũ), cậu rình xem chuyện gì xảy ra. Tối đến, một vị thần từ thân cây hiện ra, vung gậy làm lành vết chặt. Sơn Tinh phàn nàn với thần, được ông ta giao cho gậy này. Gậy có hai đầu sinh/ tử. Chỉ đầu nào vào thì có thể làm sinh vật ấy sống hay chết ngay tức khắc. Từ khi có gậy, Sơn Tinh bỏ nghề đốn củi, đi làm thuốc trị bệnh cho mọi người.


Tre Đằng Ngà:
tương truyền sau khi giết chết Thạch Lĩnh, Thánh Gióng bị gãy gươm. Cậu ta đã tiện tay nhổ các bụi tre, quấn lấy lửa của ngựa sắt rồi quất vào số quân Ân còn lại. Tre bị lửa ngựa sắt đốt cháy xém, đến nay vẫn còn giữ màu vàng, gọi là Tre Đằng Ngà.

Song thần côn: Là hai cây côn của hai tướng Võ Đình Tú và Đặng Xuân Phong.

a. Ngân côn: Cây ngân côn của tướng quân Võ Đình Tú màu trắng được rèn bằng bạch thiết, rất chắc và khá nặng, phải đến hai người khiêng.

b. Thiết côn: Cây thiết côn của tướng quân Đặng Xuân Phong màu đen, cũng nặng như cây ngân côn.

Ngân côn và thiết côn chỉ lớn bằng cổ tay, dài quá đầu, song lại rất nặng. Khi lâm trận côn múa lên, ngân côn tạo thành một đạo bạch quang, thiết côn tạo nên một luồng hắc quang. Đường côn đi đến đâu, vũ khí của đối phương văng lên tứ phía, thây người ngã rạp như rạ gặp bão.

Vì danh vang khắp nơi nên đích thân nữ tướng Bùi Thị Xuân đã thêu hai lá cờ để tặng "Ngân Côn Tướng Quân" cho Võ Đình Tú và "Thiết Côn Tướng Quân" cho Đặng Xuân Phong.


Ngựa:

Ngựa của thần Đất: Trong “ Nguồn gốc loài người” của người Vân Kiều,1 phiên bản về truyền thuyết đại hồng thủy. Con ngựa là của người em thần Đất ( được thầy Dàng – Trời – tặng cho khi theo học) trong một phiên bản ba anh em sống sót trong trận thảm họa. Một con ngựa có tốc độ khủng khiếp, vó ngựa khi chạy có thể dẫm nát mọi thứ, đốt cháy vạn vật. Con ngựa này về sau chở một trong ba anh em đến Mặt Trăng làm thần Mặt Trăng.

Ngựa đá của chàng Trăng: trong chuyện chàng Trăng của người Mnong ( Rất tương đồng với Thánh Gióng). Khi cậu bé Trăng đứng bên tảng đá lớn khấn thần xin giúp sức giết tên bạo chúa. Tảng đá liền hóa thành con ngựa mình cao 9 thức làm vật cưỡi cho cậu.

Ngựa đá của Thạch Linh: con ngựa của tướng Thạch Linh, thủ lĩnh giặc Ân trong truyện Thánh Gióng. Truyện kể rằng dân chúng vùng bị chiếm đóng bị buộc cắt cỏ cho con ngựa này ăn, nhưng nó không ăn cỏ. Khả năng không rõ, nhưng Thạch Linh gần như ngang sức với Gióng, trước khi bị giết đã kịp đánh cậu bị thương nặng. Gióng chết ( bay về trời) ít lâu sau đó.

Ngựa trắng bờm dài: Trong truyện “ Chàng Chuối tìm vợ” của người Khơ Mú. Chàng Chuối phải tìm con vật này để hỏi đường giết gấu tinh. Chẳng biết hên hay sao, anh ta bắn ngay con sói đang vồ ngựa, mà con sói lại chính là con gấu đó hóa thành. Con ngựa này không thấy đề cập gì đặc biệt ngoài ngoại hình có bờm dài và khả năng nói tiếng người.

Ngựa trắng của Sơn Tinh:
Một con ngựa trắng biết bay. Sơn Tinh còn gọi là thần Tản Viên. Tương truyền khi quan đô hộ thời Bắc thuộc là Cao Biền ( lão này là 1 nhân vật lịch sử nổi tiếng về phép thuật kể cả với người Trung Quốc) lập đàn tế dụ anh đến để chém đầu. Sơn Tinh bèn cưỡi ngựa trắng bay ngang qua đó, nhổ nước bọt tỏ ý khinh bỉ.

Ngựa có cánh: loại ngựa mà kỵ binh nhà trời Then chuyên dùng. Từng xuất hiện trong truyện cổ chàng Chương nổi tiếng.

Ngựa sắt phun lửa:
Con ngựa đúc bằng sắt mà Hùng Vương gửi đến cho Thánh Gióng theo yêu cầu. Khi Gióng ngồi lên ngựa, ngựa tự động chuyển động, có thể phun lửa. Sau khi chiến thắng, con ngựa này theo Gióng về trời. Tương truyền Lý An Tông nằm mơ thấy Hai Bà Trưng đang làm mưa, cũng thấy họ cưỡi hai con ngựa sắt tương tự thế này, nhưng không thấy nó phun lửa.

Ngựa 9 hồng mao: Một trong những món đồ sính lễ mà Sơn Tinh dùng để cưới Mỵ Nương. Tương truyền anh ta gửi cho Hùng Vương 2 con ngựa thế này.







Cung/ Nỏ:

Cung Thạch Sanh: Một bộ cung tên bằng vàng, Thạch Sanh lấy được nó sau khi đốt xác Chằn Tinh trong miếu. Sau này anh dùng bộ cung này để bắn Đại Bàng Tinh.

Chiếc ná 9 rãnh:
là vũ khí của chàng khổng lồ Bí trong truyện “cái ná 9 rãnh”. Chiếc ná lớn này bằng gỗ, được Bí chế tạo cùng với 9 mũi tên gỗ to lớn, có khả năng quay trở lại sau khi đã bắn trúng mục tiêu. Tên bắn ra có thể đánh chìm chiến thuyền.

Bộ cung tên của nàng người đá:
Trong truyện “ Chàng Chuối tìm vợ” của người Khơ Mú. Hòn đá hóa hình người con gái đã tặng Chuối một bộ cung tên. Những mũi tên này có khả năng phá đá rất ghê gớm. Bản thân chiếc nỏ cũng có thể dùng phá đá dễ dàng. Chỉ cần dùng nó để đập, đến cũi đá cũng tan nát.

Tên Xương Cá: Trong truyện “ Chàng Chuối tìm vợ” của người Khơ Mú. Đây là 3 mũi tên do 1 ông lão đánh cá người Việt chế tạo. Ông ta trao nó cho Chuối. Mũi tên này có khả năng giết rất nhanh gọn con gấu thành tinh.

Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ: đây là tên mà các vua chúa Việt Nam thời phong kiến tự chủ đã ban cho báu vật này. Cây nỏ này tương truyền do Cao Lỗ, nhà sáng chế kiêm tổng chỉ huy quân đội Âu Lạc tạo ra, được xem là bảo vật trấn quốc. Nhờ có vuốt của Rùa Kim Quy làm lẫy nỏ, cây nỏ này trong một phát có thể bắn hàng vạn mũi tên. Triệu Đà nước Nam Việt xâm lược 2 lần đều bị quân Âu Lạc dùng nỏ này bắn tan nát. Tương truyền, Cao Lỗ cũng chế tạo phiên bản nhỏ hơn của loại nỏ này, trang bị hàng loạt cho quân Âu Lạc.
Nỏ Linh Quang là loại nỏ có thật. Sử sách Trung Quốc có ghi chép về nó ( đương nhiên loại nỏ thật không thể bắn 10 000 mũi tên trong 1 phát rồi.). Người Trung Quốc gọi loại nỏ này là Liên Nỏ ( Liannu), xuất hiện lần đầu tiên là vào năm 120 trước Công Nguyên và được sử dụng đến tận cuối đời Minh mới bị loại bỏ khỏi quân đội.


Hình ảnh đính kèm
Hình ảnh đính kèm
Hình ảnh đính kèm


Đến giờ, trong truyện cổ Việt Nam hay nhầm lẫn Nỏ Linh Quang ( liannu) với Nỏ Liên Châu. Nỏ Liên Châu có tên thật là Liên Hoàn Nỏ, xuất hiện gần như cùng lúc với Liên Nỏ. Về sau nó được lăng xê và được mọi người biết đến nhiều nhất là nhờ Khổng Minh thời Tam Quốc, nên nó còn có tên là Nỏ Gia Cát. Trong khi Liên Nỏ bắn nhiều mũi tên trong 1 phát, Nỏ Liên Châu ( Liên Hoàn Nỏ) bắn liên tục nhiều phát tên rồi mới nạp tên. Cách chế tạo Nỏ Liên Châu đến nay vẫn còn ( trong khi Liên Nỏ đã thất truyền.).

Tứ Thần cung:

Là bốn cây cung nổi danh thời Tây Sơn: Thiết Thai cung, Vỹ Mao cung, Kỳ Nam cung và Liên Phát cung.

a. Thiết Thai cung

Là cung của tướng Nguyễn Quang Huy, người Phú Yên, thiện dụng cây ngân câu (móc câu bạc) ưa cưỡi bạch mã. Huy có sức mạnh lại giỏi võ nghệ, tinh thông binh pháp, Vua Thái Đức rất ái trọng, phong làm Phòng ngự sứ vào trấn Bình Thuận.

Cây Thiết Thai cung có cánh cung làm bằng thép, có nòng bằng sắt, nên trọng lượng rất nặng, sức bắn xa gấp ba, bốn lần cung thường.

Nguyễn Quang Huy trước trấn Bình Thuận, sau bị Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm nên phải lui về thủ Phú Yên. Năm Kỷ Mùi (1799) thành Quy Nhơn bị Nguyễn Phúc Ánh vây hãm, Nguyễn Quang Huy kéo quân ra cứu Quy Nhơn. Nguyễn Quang Huy đánh rất hăng. Một ngày đánh bại 25 viên tướng của Nguyễn Phúc Ánh. Phúc Ánh lấy làm lạ lên thành đứng xem. Quang Huy tả xung hữu đột giữa muôn quân như Triệu Tử Long ở trận Đương Dương Trường Bản, ngó thấy Nguyễn Phúc Ánh đứng trên thành, bèn dùng Thiết Thai cung bắn trúng cánh tay trái. Phúc Ánh té nhào bất tỉnh. Vì vết thương này mà Nguyễn Phúc Ánh phải rút về Gia Định để dưỡng thương.

b. Vĩ Mao cung:

Là cung của văn thần La Xuân Kiều, người huyện Phù Cát, văn thơ Nôm, Hán đều thông suốt. Lại giỏi cưỡi ngựa, bắn cung hay. Họ La có một cây cung đặc biệt làm bằng gỗ quý, dây cung bện bằng lông đuôi ngựa. Khi dây cung bật, một âm thanh trong trẻo du dương phát ra, tên phóng ra rất mạnh. Âm thanh vừa dứt thì đích đã trúng hồng tâm. Nhờ cây Vĩ Mao cung mà La Xuân Kiều nổi danh là một xạ thủ đương thời.

c. Kỳ Nam cung:

Là cung của tướng quân Lý Văn Bưu. Cung có một cấu trúc đặc biệt. Giữa nơi cánh cung, chỗ tay cầm có tháp gỗ quý Kỳ Nam. Bởi vậy cho nên khi treo cung nơi phòng thì hương trầm thơm ngát khắp nhà. Lúc dùng nơi trận địa, hương trầm làm tăng nội lực nên Lý Văn Bưu bắn trăm phát trăm trúng. Càng bắn nội lực càng tăng, tên càng trúng đích.

Lúc còn đang xây dựng cơ sở cho nhà Tây Sơn, tại dãy núi Ninh Thuận, huyện Tây Sơn bây giờ, có một con cọp tàu cau, to lớn như con trâu mộng, rất hung dữ và lại tinh khôn, thường hay xuống bắt bò heo và luôn cả người nữa. Lúc đầu thì hổ đi săn bắt ban đêm, sau lại phá phách luôn cả ban ngày. Chẳng những có sức mạnh mà da hổ lại quá dày, cứng đến độ giáo mác dâm không lủng. Dân làng thuê đám thợ săn cọp và các võ sĩ có danh để trừ hổ, song tất cả đều thất bại. Lớp chết lớp trọng thương.

Lý Văn Bưu được tin, mang cung Kỳ Nam tìm vào rừng sâu để diệt trừ hổ dữ. Gặp được hổ, họ Lý trương Kỳ Nam cung bắn một phát vào đầu cọp. Tên xuyên từ mắt phải ra đến sau ót. Cọp còn hăng sức xông đến. Lý Văn Bưu tiếp liền hai phát. Tuy da hổ cứng rắn song tên vẫn xuyên ngang cuống họng và yết hầu. Cọp giãy giụa một hồi lâu mới chết. Trong các trận Nam chiến, đánh nhau với quân Xiêm và Bắc chiến với quân Mãn Thanh, cây Kỳ Nam cung cũng đã ra sức giúp Lý Văn Bưu lập được nhiều chiến công.

d. Liên Phát cung:

Là cung thần của Đặng Xuân Phong. Cánh cung làm bằng thép có độ cứng và đàn hồi cao nên sức bật rất mạnh. Nhờ ở sức mạnh và tài luyện tập, Đặng Xuân Phong có thể bắn một lần 5 mũi tên và bắn liên tiếp.

Một hôm, Bùi Thị Xuân đứng ở trường trầu Kiên Mỹ, trông thấy một tráng sĩ trẻ tuổi cầm côn đồng, mang cung sắt, cưỡi ngựa ô, từ hướng làng Thuận Nghĩa chạy lên Phú Lạc, thái độ hiên ngang nhưng tướng mạo trung hậu. Đến hòn Trưng Sơn, tráng sĩ phi ngựa lên núi. Đường sá gập ghềnh nhưng ngựa chạy như trên bình địa.

Một bầy quạ bay ngang qua, tráng sĩ gương cung bắn hai phát: hai con quạ rơi xuống. Tiếp theo 5 phát nữa: lại 5 con rơi như lá rụng.

Biết là người có tài, bà Bùi Thị Xuân sau khi thăm dò gốc tích, đã cùng với Võ Đình Tú đến tận làng Dõng Hòa kết bạn và mời tham gia đại sứ, xây dựng nhà Tây Sơn.

Vựa lúa này đã được chỉnh sửa bởi kohaku: 09 May 2010 - 09:51 AM

  • Trở lên đầu trang


Thanked by 1 Member:

#3 yonhi miawa

    Nông dân cưỡi bò

  • Nông dân hung hãn
  • PipPipPipPipPip
  • 394 vựa lúa
  • 82 Thích

Gửi vào 08 May 2010 - 10:44 PM

Ôi, iu bạn Kohaku quá, mình kết nhất topic sinh vật siêu nhiên và topic này của bạn trong list topic đồng bằng đấy :cz15:
  • Trở lên đầu trang


#4 kohaku

    Nông dân lái máy cày

  • Nông dân hung hãn
  • PipPipPipPipPipPip
  • 585 vựa lúa
  • 360 Thích

Gửi vào 09 May 2010 - 08:52 AM

Trích dẫn

Anh Kohaku có thể tách các phần trong bài tổng hợp của anh thành nhiều phần rõ rệt được không? VD như nhà, vũ khí, ... anh có thể tách riêng ra thành các bài viết liên tiếp để tiện theo dõi và sau này có bổ sung thì cũng sẽ dễ dàng hơn.
:cz15:

trả lời cậu là thật sự cái này làm tớ đau đầu lắm. Vì thứ nhất là ngay cả tớ cũng phải ghi dĩa để lưu trữ 2 cái list này, nên viết kiểu này dù lộn xộn nhưng nó dễ lưu trữ hơn. Thứ 2 nữa là mỗi tập truyện cổ dân gian lại có thêm khá nhiều đồ vật thuộc những class đồ vật mới mà tớ cũng ko biết trước, cứ làm theo kiểu add dần dần vào list kiểu ấy sớm muộn cũng sẽ rối mù lên cho mà xem ( khổ). Chưa kể có những class thống kê được rất ít đồ vật, chẳng biết có thể tạo thành class hay không ( cái chày giã gạo, cây gỗ rỗng, lửa,...).

Cái cách sắp xếp trên thật sự rất lộn xộn, nhưng tớ tới giờ vẫn ko biết sắp sao cho dễ nhìn và dễ làm việc hơn, vấn đề là chỗ đó. Đây chỉ có thể xem là tư liệu thô thôi, khi đã hoàn thành tương đối, sau này sẽ có người sắp xếp lại.

Vựa lúa này đã được chỉnh sửa bởi kohaku: 09 May 2010 - 09:52 AM

  • Trở lên đầu trang